Không quân Mỹ sẽ nâng cấp hệ thống lên Windows 10 để tránh bị tấn công mạng

Không quân Mỹ đang đặt kế hoạch nâng cấp tất cả máy tính lên phiên bản Windows 10 mới nhất trước ngày 31/3 tới đây. Mọi hệ thống không cài Windows 10 sẽ bị cách ly.

Không Lực Một (Air Force One)
Chiếc phi cơ phản lực của Không lực Mỹ chuyên chở Tổng thống Mỹ.

Trong thông báo mới đây, Không quân Mỹ đã ban hành chỉ dẫn cho các phi công cần sớm nâng cấp hệ điều hành máy tính lên Windows 10. Việc sớm nâng cấp lên Windows 10 giúp đảm bảo máy tính tránh bị tấn công mạng.
Trung tá Brian Snyder, trưởng ban hành động, chính sách và chiến lược không gian mạng của không quân Mỹ khẳng định: “Việc dần nâng cấp lên Windows 10 là điều vô cùng quan trọng đối với Không lực Mỹ. Windows 10 mang tới nhiều tính năng bảo mật mới và là phiên bản Windows an toàn nhất hiện nay. Ngoài ra, các căn cứ và giới lãnh đạo cần đảm bảo chắc chắn phi đội liên lạc và không gian mạng luôn nhận được sự hỗ trợ để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ“.

Nhiều hệ thống không thể chạy Windows 10

Hiện chưa có thông tin cụ thể về số lượng máy tính của Không quân Mỹ được nâng cấp lên Windows 10. Tuy nhiên cơ quan này tiết lộ, Windows 10 sẽ có “tác động tích cực đến bảo mật” đối với một số chương trình truy cập đặc biệt của Bộ Quốc phòng, hệ thống nhiệm vụ, chiến lược, chiến thuật, nghiên cứu,…Chính vì vậy, việc nâng cấp lên Windows 10 là điều vô cùng cần thiết để duy trì liên lạc và tác chiến trong quân đội.

Microsoft và Bộ quốc phòng Mỹ đã ký biên bản hợp tác vào tháng 2/2016 với mục tiêu nâng cấp không dưới 4 triệu máy tính chạy Windows 10.

Quá trình chuyển đổi dự kiến sẽ chậm hơn so với kế hoạch do không phải tất cả phần cứng máy tính có thể tương thích với Windows 10. Đây chắc chắn là một trở ngại lớn với các hệ thống máy tính cũ.
Cuối cùng, Không lực Mỹ khẳng định, tất cả máy tính không cài Windows 10 sẽ đều bị kiểm soát và chặn truy cập vào hệ thống của quân đội nhằm tránh nguy cơ bị tấn công mạng.

Thủ thuật cơ bản PowerPoint 2003

Phần mềm PowerPoint của hãng Microsoft đã rất phổ biến với người dùng Việt Nam. Đặc biệt với những người hay phải thuyết trình, giảng dạy bằng PowerPoint. Dưới đây xin giới thiệu các mẹo giúp bạn sử dụng chuyên nghiệp Microsoft PowerPoint 2003.

1. Sử dụng các mẫu PowerPoint sẵn có của Microsoft để tận dụng các thiết kế chuyên nghiệp (Microsoft PowerPoint templates).

Các mẫu thiết kế sẵn này ngoài việc có các trang trí đồ họa chuyên nghiệp, nó còn đã được định nghĩa các font chữ, căn lề, số trang, ngày tháng,….
Cách chọn các template này như sau: Từ menu của Microsoft PowerPoint 2003 Chọn Format Chọn Slide Design… Bên phía tay phải của Microsoft PowerPoint 2003 sẽ xuất hiện các mẫu thiết kế sẵn và bạn có thể chọn bất kỳ mẫu nào hợp với nội dung trình bày của bạn. Phía dưới cùng của các template này có 2 ô vuông đặc biệt.
Additional Design Templates: Đây là chức năng cho phép bạn thêm các template vào thư viện template sẵn có của PowerPoint. Các template này bạn có thể có từ nguồn download trên mạng internet hoặc copy từ máy tính khác
Design Templates on Microsoft Office Online: Chức năng này cho phép bạn tìm và lấy thêm các mẫu PowerPoint nữa trên website của Microsoft.
Sau khi chọn được một template nào đó để dùng rồi, bạn vẫn có thể chỉnh sửa nó cho hoàn toàn thích hợp với yêu cầu của mình. Cách làm như sau:
Từ menu của Microsoft PowerPoint 2003 Chọn View Chọn Master Chọn Slide Master. Lúc này PowerPoint sẽ hiện ra các thiết kế gốc của template. Từ đây bạn có thể chỉnh sửa mọi thứ trong template này và khi kết thúc, bạn ấn nút Close Master View trên thanh Slide Master View.

Kết quả chỉnh sửa này sẽ được áp dụng cho tất cả các slide hiện có các cho các Slide tạo mới.

2. Sử dụng các hiệu ứng hoạt hình (Animation).

Một bài thuyết trình tốt ngoài việc có các hình ảnh minh họa trực quan thì việc mô tả các quy trình bằng các chuyển động, âm thanh, kỹ xảo hình ảnh (được gọi chung là Animation) cũng có tác dụng tốt cho người xem.

Để thiết lập một đối tượng trong Silde của bạn có thể chuyển động hoạt hình theo ý muốn.
Bạn trỏ phải vào đối tượng đó Chọn Custom Animation
Bên tay phải màn hình sẽ xuất hiện hộp thoại để bạn có thể thêm các hiệu ứng hoạt hình cho đối tượng này. Ấn nút Add Effect Chọn các hiệu ứng (Nhấp nháy, bay từ trái sang phải, rơi từ trên xuống dưới,…).

3. Lưu các font chữ sử dụng trong Slide của bạn đi theo file PowerPoint.

Việc này rất hữu ích khi Slide của bạn có soạn thảo bằng các font chữ không phổ biến (TCVN, VNI, font thư pháp,…), nó giúp bạn khi mang file PowerPoint này đến một máy tính khác trình diễn mà máy này không có các font đó Slide của bạn vẫn hiển thị được nội dung như mong muốn.
Cách làm: Khi soạn thảo Slide xong, trên menu File của PowerPoint Chọn Save as Tại hộp thoại Save as, chọn Tools (bên tay phải, phía trên cùng) Chọn Save Option

Hộp thoại mới mở ra và phía dưới cùng có lựa chọn Embed Truetype fonts. Sau khi lựa chọn ô này, bạn tiếp tục chọn một trong hai lựa chọn phía dưới:
Embeb characters in use only (best for reducing file size): Lựa chọn này giúp PowerPoint lưu các font cần để hiển thị Slide cho bạn, nhưng người dùng không soạn thảo, thay đổi các chữ có sử dụng các font đặc biệt này được. Ngược lại nó giúp kích cỡ file PowerPoint nhỏ gọn.
Embeb all characters (best for editing by others): Lựa chọn này giúp PowerPoint lưu các font cần để hiển thị Slide cho bạn và cho phép người dùng có thể soạn thảo, thay đổi các chữ có sử dụng các font chữ này. Ngược lại nó làm kích cỡ file PowerPoint lớn lên khá nhiều.

4. Chèn các đoạn video, ảnh,… vào Slide.

Nếu bạn muốn trình diễn một đoạn video trong bài thuyết trình của mình thì nên làm theo cách sau: Từ menu Insert của PowerPoint Chọn Movies and and Sounds Chọn Movie from file Từ đây bạn có thể chọn file video nào bạn muốn chèn vào Slide.
Cách chèn ảnh, âm thanh vào Slide tương tự như trên

5. Sử dụng các phím tắt một cách hữu dụng.

· Chuyển đổi chữ hoa chữ thường nhanh: Bôi đen những ký tự cần chuyển đổi và nhấn đồng thời Shift+F3
· Tắt màn hình trình diễn tạm thời: Ấn phím B Màn hình đen: Ấn lại phím B Màn hình trở về bình thường. Tương tự ấn phím W Màn hình trắng: Ấn lại phím W Màn hình trở về bình thường.
· Ấn phím F5 để bắt đầu trình diễn Slide. Muốn trình diễn Slide hiện tại, ấn đồng thời Shift+F5.
· Để quay về Slide đầu tiên: Ấn 1 + Enter
· Để nhảy tới Slide nào đó: Ấn số slide cần nhảy tới + Enter

Nguồn: lmt.com.vn

Chuyến bay 751 của Scandinavian Airlines

Chuyến bay 751 của Scandinavian Airlines là một chuyến bay của Scandinavian Airlines theo lịch trình từ Stockholm, Thụy Điển đến Warsaw, Ba Lan, qua Copenhagen, Đan Mạch. Ngày 27 tháng 12 năm 1991, chiếc McDonnell Douglas MD-81 do cơ trưởng Stefan G. Rasmussen (44 tuổi) và cơ phó Ulf Cedermark (34 tuổi) lái, đã buộc phải hạ cánh khẩn cấp trong một cánh đồng gần Gottröra, Thụy Điển. Băng đã đóng ở phía bên dưới của cánh (gần thân máy bay) trước khi cất cánh. Nó đã bay ra và rơi vào động cơ khi chiếc máy bay cất cánh trên không khi cất cánh, và cuối cùng dẫn đến hỏng động cơ. Tất cả 129 hành khách và phi hành đoàn trên máy bay vẫn sống sót.
Vụ tai tiếng này được gọi là vụ tai nạn Gottröra

Chuyến bay 101 của Chalk Ocean Airways

Chuyến bay 101 của Chalk Ocean Airways là vụ tai nạn máy bay đã xảy ra tại Miami Beach, Florida, Hoa Kỳ vào ngày 19 tháng 12 năm 2005. Tất cả 20 hành khách và phi hành đoàn trên tàu Turbine Mallard Grumman 1947 đã chết trong vụ tai nạn, để mệt mỏi kim loại trên cánh mạn phải dẫn đến sự tách biệt của cánh từ thân máy bay.

Chuyến bay 574 của Adam Air

Chuyến bay 574 của Adam Air là một máy bay chở khách nội địa của hãng ​​Adam Air giữa các thành phố của Indonesia Surabaya (SUB) và Manado (MDC) mà bị rơi tại eo biển Makassar gần Polewali thuộc đảo Sulawesi vào ngày 1 tháng 1 năm 2007. Tất cả 102 người trên khoang thiệt mạng, số người chết cao nhất của bất kỳ tai nạn hàng không liên quan đến một máy bay Boeing 737-400.

Chuyến bay 38 của British Airways

Chuyến bay 38 của British Airways (gọi ký Speedbird 38) là một chuyến bay theo lịch trình của British Airways từ Sân bay quốc tế Thủ đô Bắc Kinh đến Sân bay London Heathrow. Ngày 17 tháng 1 năm 2008, chiếc Boeing 777 được sử dụng cho các chuyến bay, đã hoàn thành 8.100 km (4.400 hải lý; 5.000 mi) chuyến đi, đã rơi khi hạ cánh hụt đường băng tại điểm đến của nó. Không có trường hợp tử vong nhưng 47 người bị thương; một trường hợp nghiêm trọng. Máy bay 150 tấn là Boeing 777-200ER đầu tiên bị loại bỏ trong lịch sử của dòng máy bay này, và là vụ máy bay hỏng đầu tiên của bất kỳ máy bay Boeing 777 nào.
Trước khi hạ cánh,hai động cơ máy bay bị lỗi,khiến máy bay bị đột ngột giảm độ cao và rơi xuống.Máy bay bị văng xuống đường băng,hai phần đầu cánh và động cơ đều bị nứt và hư hoàn toàn.

Chuyến bay 1363 của Air Ontario và 405 của USAir

Chuyến bay 405 của USAir là chuyến bay thường xuyên theo lịch trình của hãng hàng không giữa sân bay LaGuardia ở Queens, New York, New York, và Cleveland, Ohio . Vào ngày 22 tháng 3 năm 1992, một chiếc USAir Fokker F28 , đăng ký N485US, đang bay trên đường bay, rơi vào tình trạng thời tiết xấu ở vị trí đảo ngược một phần ở vịnh Flushing , ngay sau khi rời khỏi LaGuardia. Các bánh xe cất cánh từ đường băng; tuy nhiên, chiếc máy bay không đạt được tốc độ cất cánh, bay chỉ vài mét so với mặt đất. Chiếc máy bay sau đó lui khỏi đường băng và va chạm nhiều chướng ngại vật trước khi rơi tại Vịnh Flushing, ngay bên ngoài đường băng. Trong số 51 người trên tàu, 27 người đã thiệt mạng trong vụ tai nạn, trong đó có thuyền trưởng và một thành viên phi hành đoàn.

Một tai nạn tương tự đã xảy ra ba năm trước năm 1989, khi chuyến bay 1363 của Air Ontario bị rơi ngay sau khi cất cánh tại sân bay Dryden Regional sau khi băng đã tích tụ trên cánh và khung máy bay. Trong số 69 hành khách và phi hành đoàn, 24 người đã thiệt mạng.

Nhiệt giai là gì? Các thang đo nhiệt độ thường gặp và cách chuyển đổi

[​IMG]

Nhiệt giai là thang đo nhiệt độ theo một quy ước xác định, trong vật lí thường gặp nhất là nhiệt giai Kevil (độ K hay còn gọi là nhiệt độ tuyệt đối), nhiệt giai Fahrenheit (độ F), nhiệt giai Celsius (độ C)

[​IMG]

hình minh họa các thang nhiệt giai, dụng cụ đo nhiệt-độ gọi là nhiệt kế

Thang nhiệt giai Fahrenheit (độ F kí hiệu là oF) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo tên nhà vật lí người Đức Daniel Gabriel Fahrenheit (1686–1736)

Fahrenheit chọn điểm số không trên thang nhiệt giai của ông là nhiệt độ thấp nhất của mùa đông năm 1708/1709, một mùa đông khắc nghiệt ở thành phố Gdansk (Danzig) quê hương ông. Bằng một hỗn hợp, nước đá, nước và Amoni clorid (NH4Cl)” (còn gọi là hỗn hợp lạnh) sau đó ông có thể tạo lại điểm số không cũng như là điểm chuẩn thứ nhất (−17,8 °C) này. Fahrenheit muốn bằng cách đó tránh được nhiệt-độ âm như thường gặp ở thang nhiệt độ Rømer-Skala trong hoàn cảnh đời sống bình thường.

Thang nhiệt giai Celsius (độ C kí hiệu là °C) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo nhà thiên văn học người Thụy Điển Anders Celsius (1701–1744).

Ông là người đầu tiên đề ra hệ thống đo nhiệt độ căn cứ theo trạng thái của nước với 100 độ C là nước sôi và 0 độ C là nước đá đông ở khí áp tiêu chuẩn (standard atmosphere) vào năm 1742.

Thang nhiệt giai Kelvin (độ K kí hiệu là K) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo nhà vật lí người Anh William Thomson sau này là huân tước Kelvin (1824-1907)

vào năm 1848 Kelvin đã đề xuất một thang đo nhiệt-độ bắt đầu tại nhiệt độ thấp nhất có thể có trên lí thuyết gọi độ không tuyệt đối. Các độ chia trên thang đo này được gọi là Kelvin và được kí hiệu là K (không phải oK), nhiệt-độ tính theo thang nhiệt giai Kelvin gọi là nhiệt độ tuyệt đối.

Thang nhiệt giai Fahrenheit được quen dùng ở các nước Châu Âu, tuy nhiên thông dụng nhất vẫn là thang nhiệt giai Celsius, thang nhiệt giai Kelvin chỉ được dùng trong lĩnh vực vật lí nhiệt học và nhiệt động lực học.

Cách chuyển đổi đơn vị các thang nhiệt giai khác về thang nhiệt giai Celsius (°C)

[​IMG]

K = oC + 273

Các dụng cụ đo nhiệt độ được gọi là nhiệt kế.

Phân loại nhiệt kế:

  • Nhiệt kế chất lỏng: hoạt động trên cơ sở dãn nhiệt của các chất. Các chất lỏng sử dụng ở đây phổ biến là thủy ngân, rượu màu, rượu etylic (C2H5OH), pentan (C5H12), benzen toluen (C6H5CH3)…
  • Nhiệt kế điện: Dụng cụ đo nhiệt điện sử dụng các đặc tính điện hoặc từ phụ thuộc nhiệt độ như hiệu ứng nhiệt điện trong một mạch có hai hoặc nhiều kim loại, hoặc sự thay đổi điện trở của một kim loại theo nhiệt độ.
  • Nhiệt kế điện trở: nhiệt kế đo nhiệt độ dựa trên hiệu ứng biến thiên điện trở của chất bán dẫn, bán kim hoặc kim loại khi nhiệt độ thay đổi; đặc tính loại này có độ chính xác cao, số chỉ ổn định, có thể tự ghi và truyền kết quả đi xa. Nhiệt kế điện trở bằng bạch kim đo được nhiệt độ từ 263 °C đến 1.064 °C; niken và sắt tới 300 °C; đồng 50 °C – 180 °C; bằng các chất bán dẫn để đo nhiệt độ thấp (0,1°K – 100°K). Để đo nhiệt độ thấp, người ta áp dụng loại nhiệt kế ngưng tụ, nhiệt kế khí, nhiệt kế từ.
  • Nhiệt kế bán dẫn: Dùng cảm biến nhiệt là một linh kiện bán dẫn nhóm Điốt Zener biến đổi tín hiệu tương tự sang số (ADC) và hiện số liệu. Nó có mặt trong các máy đo nhanh của y tế. Trong đó nhiệt độ môi trường đất, nước, không khí,… cũng đang dùng cảm biến nhiệt bán dẫn với vỏ thích hợp để dẫn nhiệt nhanh. Dải nhiệt độ làm việc do mạch điện tử xác định, tức là cao nhất vào cỡ 80 đến 120 °C.
  • Nhiệt kế hồng ngoại: Dựa trên hiệu ứng bức xạ nhiệt dưới dạng hồng ngoại của các vật nóng

Nhiệt kế chất lỏng (bên trong chứa chất lỏng thủy ngân) thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng duy nhất, nó rất độc và dễ gây ngộ độc cho người vì vậy nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ tránh tiếp xúc với da tay, khuyến cáo để xa tầm với của trẻ em.