Các bài đăng bởi sieuquay127

Chuyến bay 1363 của Air Ontario và 405 của USAir

Chuyến bay 405 của USAir là chuyến bay thường xuyên theo lịch trình của hãng hàng không giữa sân bay LaGuardia ở Queens, New York, New York, và Cleveland, Ohio . Vào ngày 22 tháng 3 năm 1992, một chiếc USAir Fokker F28 , đăng ký N485US, đang bay trên đường bay, rơi vào tình trạng thời tiết xấu ở vị trí đảo ngược một phần ở vịnh Flushing , ngay sau khi rời khỏi LaGuardia. Các bánh xe cất cánh từ đường băng; tuy nhiên, chiếc máy bay không đạt được tốc độ cất cánh, bay chỉ vài mét so với mặt đất. Chiếc máy bay sau đó lui khỏi đường băng và va chạm nhiều chướng ngại vật trước khi rơi tại Vịnh Flushing, ngay bên ngoài đường băng. Trong số 51 người trên tàu, 27 người đã thiệt mạng trong vụ tai nạn, trong đó có thuyền trưởng và một thành viên phi hành đoàn.

Một tai nạn tương tự đã xảy ra ba năm trước năm 1989, khi chuyến bay 1363 của Air Ontario bị rơi ngay sau khi cất cánh tại sân bay Dryden Regional sau khi băng đã tích tụ trên cánh và khung máy bay. Trong số 69 hành khách và phi hành đoàn, 24 người đã thiệt mạng.

Nhiệt giai là gì? Các thang đo nhiệt độ thường gặp và cách chuyển đổi

[​IMG]

Nhiệt giai là thang đo nhiệt độ theo một quy ước xác định, trong vật lí thường gặp nhất là nhiệt giai Kevil (độ K hay còn gọi là nhiệt độ tuyệt đối), nhiệt giai Fahrenheit (độ F), nhiệt giai Celsius (độ C)

[​IMG]

hình minh họa các thang nhiệt giai, dụng cụ đo nhiệt-độ gọi là nhiệt kế

Thang nhiệt giai Fahrenheit (độ F kí hiệu là oF) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo tên nhà vật lí người Đức Daniel Gabriel Fahrenheit (1686–1736)

Fahrenheit chọn điểm số không trên thang nhiệt giai của ông là nhiệt độ thấp nhất của mùa đông năm 1708/1709, một mùa đông khắc nghiệt ở thành phố Gdansk (Danzig) quê hương ông. Bằng một hỗn hợp, nước đá, nước và Amoni clorid (NH4Cl)” (còn gọi là hỗn hợp lạnh) sau đó ông có thể tạo lại điểm số không cũng như là điểm chuẩn thứ nhất (−17,8 °C) này. Fahrenheit muốn bằng cách đó tránh được nhiệt-độ âm như thường gặp ở thang nhiệt độ Rømer-Skala trong hoàn cảnh đời sống bình thường.

Thang nhiệt giai Celsius (độ C kí hiệu là °C) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo nhà thiên văn học người Thụy Điển Anders Celsius (1701–1744).

Ông là người đầu tiên đề ra hệ thống đo nhiệt độ căn cứ theo trạng thái của nước với 100 độ C là nước sôi và 0 độ C là nước đá đông ở khí áp tiêu chuẩn (standard atmosphere) vào năm 1742.

Thang nhiệt giai Kelvin (độ K kí hiệu là K) là đơn vị đo nhiệt độ được đặt tên theo nhà vật lí người Anh William Thomson sau này là huân tước Kelvin (1824-1907)

vào năm 1848 Kelvin đã đề xuất một thang đo nhiệt-độ bắt đầu tại nhiệt độ thấp nhất có thể có trên lí thuyết gọi độ không tuyệt đối. Các độ chia trên thang đo này được gọi là Kelvin và được kí hiệu là K (không phải oK), nhiệt-độ tính theo thang nhiệt giai Kelvin gọi là nhiệt độ tuyệt đối.

Thang nhiệt giai Fahrenheit được quen dùng ở các nước Châu Âu, tuy nhiên thông dụng nhất vẫn là thang nhiệt giai Celsius, thang nhiệt giai Kelvin chỉ được dùng trong lĩnh vực vật lí nhiệt học và nhiệt động lực học.

Cách chuyển đổi đơn vị các thang nhiệt giai khác về thang nhiệt giai Celsius (°C)

[​IMG]

K = oC + 273

Các dụng cụ đo nhiệt độ được gọi là nhiệt kế.

Phân loại nhiệt kế:

  • Nhiệt kế chất lỏng: hoạt động trên cơ sở dãn nhiệt của các chất. Các chất lỏng sử dụng ở đây phổ biến là thủy ngân, rượu màu, rượu etylic (C2H5OH), pentan (C5H12), benzen toluen (C6H5CH3)…
  • Nhiệt kế điện: Dụng cụ đo nhiệt điện sử dụng các đặc tính điện hoặc từ phụ thuộc nhiệt độ như hiệu ứng nhiệt điện trong một mạch có hai hoặc nhiều kim loại, hoặc sự thay đổi điện trở của một kim loại theo nhiệt độ.
  • Nhiệt kế điện trở: nhiệt kế đo nhiệt độ dựa trên hiệu ứng biến thiên điện trở của chất bán dẫn, bán kim hoặc kim loại khi nhiệt độ thay đổi; đặc tính loại này có độ chính xác cao, số chỉ ổn định, có thể tự ghi và truyền kết quả đi xa. Nhiệt kế điện trở bằng bạch kim đo được nhiệt độ từ 263 °C đến 1.064 °C; niken và sắt tới 300 °C; đồng 50 °C – 180 °C; bằng các chất bán dẫn để đo nhiệt độ thấp (0,1°K – 100°K). Để đo nhiệt độ thấp, người ta áp dụng loại nhiệt kế ngưng tụ, nhiệt kế khí, nhiệt kế từ.
  • Nhiệt kế bán dẫn: Dùng cảm biến nhiệt là một linh kiện bán dẫn nhóm Điốt Zener biến đổi tín hiệu tương tự sang số (ADC) và hiện số liệu. Nó có mặt trong các máy đo nhanh của y tế. Trong đó nhiệt độ môi trường đất, nước, không khí,… cũng đang dùng cảm biến nhiệt bán dẫn với vỏ thích hợp để dẫn nhiệt nhanh. Dải nhiệt độ làm việc do mạch điện tử xác định, tức là cao nhất vào cỡ 80 đến 120 °C.
  • Nhiệt kế hồng ngoại: Dựa trên hiệu ứng bức xạ nhiệt dưới dạng hồng ngoại của các vật nóng

Nhiệt kế chất lỏng (bên trong chứa chất lỏng thủy ngân) thủy ngân là kim loại ở dạng lỏng duy nhất, nó rất độc và dễ gây ngộ độc cho người vì vậy nếu nhiệt kế thủy ngân bị vỡ tránh tiếp xúc với da tay, khuyến cáo để xa tầm với của trẻ em.

Chuyến bay 3407 của Continental Airlines

Colgan Air Flight 3407, hay Continental Connection Flight 3407, là một chuyến bay của hãng Continental Airlines.
Sau khi liên lạc lần cuối vào lúc 10:11 giờ tối EST ngày 12-2-2009 (03:11 ngày 13 tháng 2 giờ UTC), máy bay đâm vào một ngôi nhà ở Đông Bắc Buffalo ngoại ô Trung tâm Clarence làm tất cả mọi người trên máy bay chết. Tổng cộng 50 người đã chết bao gồm 2 phi công, 2 tiếp viên, 45 hành khách khác và 1 người trong căn nhà. Phi hành đoàn đã không thông báo tình trạng khẩn cấp khi tai nạn xảy ra. Đây là tai nạn nghiêm trọng đầu tiên của một máy bay thương mại ở Mỹ từ vụ tai nạn của chuyến bay 191 Comair vào tháng 8 năm 2006.

Chuyến bay 394 của Partnair

Chuyến bay 394 của Partnair là một chuyến bay chở khách đã bị rơi vào ngày 8 tháng 9 năm 1989 ngoài khơi bờ biển Đan Mạch, cách 18 km về phía bắc Hirtshals. Tất cả 50 hành khách và 5 phi hành đoàn trên máy bay đã chết, khiến nó là vụ tai nạn hàng không dân dụng nghiêm trọng nhất liên quan đến một công ty hàng không của Na Uy. Đây cũng là số người thiệt mạng cao nhất trong số tai nạn hàng không liên quan đến một chiếc Convair 580, và vụ tai nạn máy bay lớn nhất ở Đan Mạch. Nó được gây ra bởi việc sử dụng các bộ phận máy bay giả mạo trong việc sửa chữa và bảo dưỡng.

Chuyến bay 255 của Northwest Airlines

Chuyến bay 255 của hãng hàng không Northwest Airlines, một chiếc McDonnell Douglas MD-82, đã rơi ngay sau khi cất cánh từ Sân bay Detroit Metropolitan vào ngày 16 tháng 8 năm 1987, vào khoảng 8:46 chiều EDT (00:46 UTC ngày 17 tháng 8), giết chết cả sáu thành viên phi hành đoàn và 148 hành khách của nó, cùng với hai người trên mặt đất. Người sống sót duy nhất là một cô gái 4 tuổi, Cecelia Cichan, người bị thương nặng. Đây là vụ tai nạn máy bay gây tử vong thứ hai vào thời đó tại Hoa Kỳ. Đây cũng là vụ tai nạn chết chóc liên quan đến một MD-82 cho đến năm 2005, khi chuyến bay 708 của West Caribbean Airways xảy ra tại Venezuela, giết chết 160 người trên máy bay.

Chuyến bay 296 của Air France

Chuyến bay 296 của Air France là một chuyến bay điều lệ của Airbus A320-111 do Air France điều hành. Vào ngày 26 tháng 6 năm 1988, nó đã đâm xuống khi vượt qua Sân bay Mulhouse-Habsheim (sân bay ICAO tcode LFGB) trong chương trình Không khí Habsheim. Vụ tai nạn, xảy ra trước hàng ngàn khán giả, là một trong số ít vụ va chạm của một máy bay chở hàng thương mại bị bắt gặp toàn bộ trên video. Nguyên nhân vụ tai nạn đã là nguồn gây tranh cãi lớn.

Chuyến bay USAir 1493

Chuyến bay USAir 1493 là chuyến bay chở khách theo lịch trình từ Sân bay Quốc tế Syracuse Hancock , New York , đến Sân bay Quốc tế San Francisco , qua Washington DC , Columbus, Ohio và Los Angeles . Vào tối ngày 1 tháng 2 năm 1991, chiếc Boeing 737-300 phục vụ chuyến bay đã vô tình va chạm với chiếc SkyWest Flight 5569 , một máy bay phản lực của Metroliner khi hạ cánh tại Los Angeles.

Chuyến bay 611 của China Airlines

Chuyến bay 611 của China Airlines (CAL 611, 611 CI, callsign Dynasty 611) là một chuyến bay thường lệ từ sân bay quốc tế Tưởng Giới Thạch (nay là Sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan Đài Loan) ở Đào Viên đến Sân bay quốc tế Hồng Kông. Ngày 25 tháng 5 năm 2002, chiếc Boeing 747-209B mang số hiệu Dynasty CI611 vỡ tung trong không trung và đâm vào eo biển Đài Loan chỉ cần 20 phút sau khi cất cánh, làm 225 người thiệt mạng. Nguyên nhân của vụ tai nạn đã được sửa chữa không đúng với chiếc máy bay 22 năm trước đó. Ngày 25 tháng 5 năm 2002, chuyến bay mang số hiệu Dynasty CI611 có lộ trình từ Đài Loan đến Hồng Kông đã bất ngờ biến mất trên màn hình radar khi chỉ vừa cất cánh được 25 phút. Toàn bộ 225 người bao gồm cả phi hành đoàn đã bỏ mạng trong vụ tai nạn thảm khốc này. Ngày 25 tháng 5 năm 2002, China Airlines Boeing 747 cất cánh từ sân bay quốc tế Đào Viên Đài Loan lúc 14h50 chiều và dự tính sẽ đáp xuống sân bay quốc tế Hồng Kông khoảng 16h30. Sau khi cất cánh được 25 phút và đạt độ cao FL350 (35.000 foot ~ 10,67 km), trung tâm kiểm soát không lưu (Air Traffic Center – ATC) tại Đài Loan đã mất tín hiệu chuyến bay CI611 trên màn hình radar.

Chuyến bay Crossair 3597

Chuyến bay Crossair LX 3597 là chuyến bay theo lịch trình từ Sân bay Berlin Tegel , Đức, tới Sân bay Zürich , Thụy Sĩ. Vào ngày 24 tháng 11 năm 2001, chiếc Crossair Avro RJ100 hoạt động tuyến, đăng ký HB-IXM, đã đâm xuống một dãy núi gần Bassersdorf và bốc cháy, giết chết 24 trong số 33 người trên máy bay.
Nhóm nhạc pop Đức Passion Fruit đã bay trên chuyến bay 3597; ca sĩ Nathaly (vd) van het Ende và Maria Serrano Serrano đã bị chết, trong khi ca sĩ Debby St Maarten và người quản lý của ban nhạc sống sót sau chấn thương. Các thương tích của St. Maarten được xem là “nghiêm trọng”.